Pháp luật trao cho cá nhân được quyền tự mình thực hiện các hành vi và giao dịch để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế sẽ tồn tại một nhóm người không đủ khả năng quản lý tài sản, xác lập và thực hiện hành vi pháp lý, thậm chí là tự chăm sóc bản thân. Pháp luật dân sự gọi cơ chế pháp lý bảo trợ cho nhóm người này là giám hộ. Chế định giám hộ được xem là cơ chế pháp lý bảo trợ cho nhóm người không đủ khả năng quản lý tài sản, xác lập và thực hiện hành vi pháp lý, thậm chí là tự chăm sóc bản thân của mình. Do đó, những người giám hộ là những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giám hộ được pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ một cách rõ ràng cũng như hướng dẫn thực hiện việc giám hộ. Ngoài ra, cơ chế giám sát việc giám hộ cũng được xây dựng để đảm bảo người giám hộ luôn hành động vì lợi ích của người được giám hộ. Bài viết sau đây phân tích về giám hộ và việc thực hiện việc giám hộ theo pháp luật Việt Nam, trong đó bao gồm quyền và nghĩa vụ của người giám hộ khi thực hiện việc giám hộ, cơ chế giám sát giám hộ, việc thay đổi người giám hộ, chuyển giao giám hộ và chấm dứt việc giám hộ.
1. Khái niệm giám hộ
Giám hộ được cho là một chế định xuất phát từ việc bảo vệ và chăm sóc người chưa thành niên. Dần dần, phạm vi của đối tượng được bảo vệ bởi chế định giám hộ được mở rộng sang những người đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam đưa ra một quy phạm định nghĩa về giám hộ như sau: Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ). Thông qua quy định của Bộ luật Dân sự, có thể thấy rằng người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân tham gia hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ cho những người yếu thế về mặt năng lực hành vi dân sự thông qua các căn cứ xác lập là giám hộ đương nhiên hoặc được Ủy ban nhân dân cấp xã cử hay được Tòa án chỉ định hoặc được lựa chọn bởi người được giám hộ trước khi họ rơi vào tình trạng cần được giám hộ (giám hộ ủy quyền/lựa chọn).
2. Phân loại giám hộ
Giám hộ có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí về người giám hộ, người được giám hộ hay căn cứ xác lập giám hộ. Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận chế định giám hộ để áp dụng trên thực tế, tác giả phân tích việc phân loại giám hộ dựa trên căn cứ xác lập giám hộ hay hình thức giám hộ theo luật định là giám hộ đương nhiên và giám hộ cử, chỉ định.
2.1 Giám hộ đương nhiên
Giám hộ đương nhiên được chia thành hai trường hợp là giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên và giám hộ đương niên đối với người đã thành niên.
Đối với người chưa thành niên, không phải tất cả người chưa thành niên đều có thể rơi vào trường hợp được giám hộ. Căn cứ Khoản 1, Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chỉ có người chưa thành niên thuộc hai trường hợp sau đây được giám hộ: (i) không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; (ii) có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.
Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên thuộc trường hợp được giám hộ nêu trên được xác định theo thứ tự sau đây: (i) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ; (ii) Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ; (iii) bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ. Tại Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015 không liệt kê cha, mẹ là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên bởi lẽ theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ đã là đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên. Trong khi đó, đại diện được hiểu là việc người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Do đó, quy định của Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015 có sự hợp lý khi không liệt kê cha, mẹ vào nhóm người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên.
Đối với người thành niên, theo Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ đương nhiên của người thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự như sau: Vợ hoặc chồng là người giám hộ của người còn lại nếu người đó mất năng lực hành vi dân sự. Nếu cả hai đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ. Cần phải làm rõ thêm rằng Bộ luật Dân sự 2015 chỉ quy định người giám hộ đương nhiên của người thành niên mất năng lực hành vi dân sự. Đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, giám hộ sẽ thuộc hình thức giám hộ chỉ định như phân tích ở mục sau.
2.2 Giám hộ cử, chỉ định
Đối với việc cử giám hộ, theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ và phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.
Đối với việc chỉ định giám hộ, cơ quan chỉ định người giám hộ là Tòa án. Việc chỉ định người giám hộ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật Dân sự 2015 về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ. Ngoài ra, đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, khoản 4, Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ sẽ do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định của Điều này, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.
Cần phải một lần nữa nhấn mạnh rằng, việc phân tích việc phân loại nêu trên chỉ đối với giám hộ theo luật định (giám hộ pháp định), không bao gồm việc giám hộ ủy quyền/lựa chọn. Đối với giám hộ ủy quyền/lựa chọn sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền lựa chọn người giám hộ cho mình và việc lựa chọn người giám hộ được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Khi người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý.
3. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
Để thực hiện việc giám hộ, người giám hộ được pháp luật trao cho một số quyền để có thể thực hiện tốt vai trò chăm sóc sức khỏe, đời sống tinh thần và vật chất của người được giám hộ. Theo quy định của Điều 58 Bộ luật Dân sự 2015, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có quyền sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ, được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ và được đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Về nghĩa vụ, do được nhìn nhận từ yếu tố tự nhiên của định chế giám hộ, như là sự bảo vệ tự nhiên đối với người yếu thế hoàn toàn không có năng lực tự bảo vệ mình, nghĩa vụ của người giám hộ đối với người chưa thành niên, đối với người thành niên không thể tự chăm sóc bản thân (mất năng lực hành vi dân sự) sẽ khác với nghĩa vụ của giám hộ đối với một phạm vi người không phải hoàn toàn mất năng lực hành vi dân sự, chỉ là sự sụt giảm về năng lực phán đoán. Theo đó, đối với người chưa thành niên, tùy thuộc vào độ tuổi của người chưa thành niên mà người giám hộ sẽ có các nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản của người được giám hộ, đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người giám hộ sẽ có thêm nghĩa vụ đặc biệt là bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ.
Riêng đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được xác định theo quyết định của Tòa án trong số các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Quy định này xuất phát từ việc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không hoàn toàn bị mất năng lực hành vi dân sự mà tùy thuộc vào từng thời điểm và tình trạng sức khỏe và tinh thần của họ mà họ có thể thể hiện ý chí của mình. Do đó, tại thời điểm Tòa án ra quyết định, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi có thể dựa trên ý chí của mình để xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
4. Giám sát việc giám hộ
4.1 Người giám sát việc giám hộ
Người giám hộ với tư cách là một người hành động vì lợi ích của người được giám hộ nên được pháp luật trao cho các quyền và nghĩa vụ thực hiện các hoạt động liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Tuy nhiên, từ lý thuyết kinh tế – luật, không kỳ vọng vào việc người giám hộ sẽ mẫn cán, toàn tâm toàn ý thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người được giám hộ, trong nhiều trường hợp vì lợi ích của chính bản thân mình, người giám hộ lạm dụng quyền giám hộ để thực hiện các giao dịch dân sự có thể gây thiệt hại, thậm chí xâm hại tài sản, sức khỏe của người được giám hộ. Do đó, pháp luật đã đặt ra cơ chế giám sát việc giám hộ để đảm bảo người giám hộ luôn hành động vì lợi ích của người được giám hộ.
Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015, người thân thích của người được giám hộ thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ trong số những người thân thích hoặc chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ và việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó. Người thân thích của người được giám hộ được liệt kê bao gồm vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ. Pháp luật hiện đang dừng lại ở việc liệt kê trường hợp cuối cùng những đối tượng được xem là người thân thích để thực hiện việc cử người giám sát việc giám hộ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người được giám hộ. Vậy trong trường hợp người được giám hộ không còn người thân thích nào được liệt kê tại đây thì có thực hiện cơ chế giám sát việc giám hộ hay không?
Về cơ bản, cách thức xác lập người giám sát việc giám hộ cũng tương tự cách thức xác lập người giám hộ. Như đã phân tích, trường hợp người được giám hộ không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ. Tương tự, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp không có người thân thích của người được giám hộ hoặc những người thân thích không cử, chọn được người giám sát việc giám hộ thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát việc giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định.
Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp người giám hộ do Ủy ban nhân dân cấp xã cử (có thể là người thân thích hoặc người không thân thích của người được giám hộ) không hành động vì lợi ích của người được giám hộ, đặc biệt là việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ, có tồn tại hay không cơ chế để kiểm soát người giám hộ không trục lợi riêng cho mình? Vấn đề này hiện chưa được ràng buộc và kiểm soát bởi các quy định pháp luật. Do đó, trong trường hợp này, sự mẫn cán và lòng tin được kỳ vọng cao hơn ở cả người giám hộ và người giám sát việc giám hộ về việc họ sẽ thật sự hành động vì lợi ích của người được giám hộ.
4.2 Điều kiện của người giám sát việc giám hộ
Về điều kiện để trở thành người giám hộ, pháp luật dân sự quy định rõ cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám sát, và cả cá nhân, pháp nhân đều phải có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát thì mới có thể trở thành người giám sát việc giám hộ. Việc xác định điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát trước tiên được trao cho những người thân thích của người được giám hộ xác định, bởi thực tế những người thân thích của người được giám hộ vốn dĩ cũng có mối quan hệ với nhau nên việc xác định này sẽ có thể được thực hiện chính xác bởi họ. Trong trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án sẽ xác định điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát của những người thân thích để quyết định ai là người giám sát việc giám hộ.
4.3 Quyền và nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ
Người giám sát việc giám hộ có các quyền và nghĩa vụ: (i) Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ; (ii) Xem xét, có ý kiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự bởi người giám hộ được quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015; (iii) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộ xem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ.
Đối với việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Tuy nhiên, pháp luật hiện không quy định rõ hình thức thể hiện sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ có bắt buộc phải bằng văn bản hay không nên trường hợp người giám hộ thực hiện giao dịch theo sự đồng ý bằng lời nói của người giám sát việc giám hộ nhưng sau đó người giám sát việc giám hộ có sự thay đổi ý chí thì sẽ dễ phát sinh tranh chấp. Do đó, sự thận trọng trong cách hành xử của người giám sát việc việc giám hộ cũng như người giám hộ là yếu tố cốt lõi để không dẫn đến tranh chấp khi thực hiện chế định có ý nghĩa đối với người được giám hộ này.
5. Thay đổi người giám hộ, chuyển giao giám hộ và chấm dứt việc giám hộ
5.1 Thay đổi người giám hộ
Trước tiên, việc thay đổi người giám hộ có thể phát sinh trong các trường hợp (i) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện của người giám hộ; (ii) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại; (iii) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ; (iv) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.
Có thể thấy rằng, việc thay đổi người giám hộ xuất phát từ việc đảm bảo việc thực hiện giám hộ đối với người được giám hộ khi người giám hộ không còn phù hợp để thực hiện vai trò của mình. Lúc này, thủ tục thay đổi người giám hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Cụ thể, theo quy định tại Điều 23 Luật Hộ tịch 2014, trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định của Luật Hộ tịch.
5.2 Chuyển giao giám hộ
Việc chuyển giao giám hộ sẽ được thực hiện khi thay đổi người giám hộ. Theo quy định tại Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người giám hộ mới, người đã thực hiện việc giám hộ phải chuyển giao giám hộ cho người thay thế mình. Việc chuyển giao giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do chuyển giao và tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ tại thời điểm chuyển giao. Cơ quan cử, chỉ định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ chứng kiến việc chuyển giao giám hộ.
Đối với trường hợp người giám hộ không thể chuyển giao giám hộ với lý do như chết, mất năng lực hành vi dân sự,… quy định tại Khoản 1 Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 thì cơ quan cử, chỉ định người giám hộ lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản, vấn đề khác có liên quan của người được giám hộ, quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện việc giám hộ để chuyển giao cho người giám hộ mới với sự chứng kiến của người giám sát việc giám hộ.
5.3 Chấm dứt giám hộ
Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Dân sự 2015, việc chấm dứt xảy ra trong trường hợp: (i) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (ii) Người được giám hộ chết; (iii) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; (iv) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi. Vậy việc chấm dứt giám hộ tuân theo bản chất của việc giám hộ chính là phát sinh khi người được giám hộ không còn ở tình trạng cần được giám hộ, trong đó bao gồm trường hợp người được giám hộ chết và người được giám hộ có thể thực hiện được việc chăm sóc, quản lý tài sản bởi chính mình hay cha, mẹ, cha nuôi, mẹ nuôi của họ.
Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Hộ tịch 2014. Theo đó, người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp – hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt giám hộ, khi giám hộ chấm dứt, người giám hộ sẽ lập văn bản với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ để thực hiện việc thanh toán tài sản và chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho các đối tượng nhận chuyển giao tùy trường hợp được liệt kê tại Điều 63 Bộ luật Dân sự 2015.
| Trên đây là bài viết của Công ty Luật TNHH Danh Tiếng. Mọi thắc mắc cần được tư vấn của quý khách hàng xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại, email hoặc liên hệ trực tiếp tại Công ty để được hỗ trợ.
CÔNG TY LUẬT TNHH DANH TIẾNG Địa chỉ: Tầng 3, số 372 Lê Văn Sỹ, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Hotline: 0838.612.333 – 0973.231.333 Email: luatdanhtieng@gmail.com |

