ĐẠI DỊCH COVID-19 LÀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG HAY HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

Đại dịch Covid- 19 đang làm thay đổi thế giới, tác động tiêu cực trực tiêp tới kinh tế và thương mại quốc tế. Việc này không chỉ xảy ra trước mắt mà có thể kéo dài một thời gian dài, khiến doanh nghiệp không chỉ đau đầu trong chiến lược kinh doanh mà còn đối mặt với nguy cơ kiện tụng do tranh chấp thực hiện hợp đồng. Luật Danh Tiếng có cuộc trao đổi ngắng với TS. Bùi Kim Hiếu, Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học Tp.HCM.

Câu hỏi: Xin Thầy cho biết quy định của pháp luật hiện hành về sự kiện bất khả kháng

Nhiều hợp đồng có điều khoản bất khả kháng hiện hữu. Bên bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cần xem xét kỹ lại các điều kiện của điều khoản này để xác định khả năng áp dụng nó trong trường hợp của mình. Ðối với những hợp đồng không có điều khoản bất khả kháng thì bên bị ảnh hưởng có thể viện dẫn tới quy định tại Ðiều 156 của Bộ luật Dân sự năm 2015: ” sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Được coi là sự kiện bất khả kháng khi có có điều kiện sau:

Một là, xảy ra một cách khách quan

Tính “khách quan” được hiểu là xảy ra do nguyên nhân tự nhiên hoặc do con người gây ra mà bên chịu tác động không thể biết, như động đất, thiên tai, sóng thần… Ngoài ra, các hiện tượng xã hội như chiến tranh, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của Chính phủ cũng có thể là sự kiện bất khả kháng nếu nó tác động đến việc thực hiện đối với hợp đồng. Khi xét đến yếu tố ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến việc thực hiện hợp đồng, chúng ta không xem xét đến ảnh hưởng của vi rút Corona đến chủ thể thực hiện hợp đồng mà sẽ xem xét sự tác động từ các hành vi, quyết định, văn bản của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19 ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên. Những hành vi, quyết định, văn bản của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19 là các sự kiện diễn ra nằm ngoài ý chí của các bên nên đáp ứng tính khách quan của sự kiện bất khả kháng

Hai là, không thể lường trước được

Để xét về yếu tố “lường trước” của dịch Covid-19 đối với việc thực hiện hợp đồng cần xác định về thời điểm xác lập hợp đồng các bên đã biết hoặc phải biết về quyết định công bố dịch và các biện pháp pháp lý có thể được áp dụng để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch dịch bệnh hay không? Nếu hợp đồng được xác lập trong khoảng thời gian công bố dịch bệnh Covid-19 thì việc ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đến việc thực hiện hợp đồng không được coi là sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc Cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp pháp lý để hạn chế sự lây lan và phát triển dịch dịch bệnh mạnh hơn mà các bên không lường trước được khi xác lập hợp đồng.

Ba là, không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Khi một bên chịu ảnh hưởng của sự kiện bất khả kháng thì có thể được miễn trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng nhưng điều này cũng sẽ làm ảnh hưởng, thiệt hại cho bên kia. Vì thế, trên nguyên tắc giảm thiểu tối đa thiệt hại khi thực hiện hợp đồng thì pháp luật yêu cầu bên chịu ảnh hưởng của sự kiện bất khả kháng phải nỗ lực áp dụng các biện pháp để hạn chế, khắc phục, phòng tránh các thiệt hại có thể xảy ra do ảnh hưởng của sự kiện bất khả kháng. Khi các văn bản pháp luật, quyết định hành chính được ban hành nhằm ngăn chặn, hạn chế sự lây lan của dịch bệnh Covid-19 làm cho một bên hoặc các bên không thể thực hiện được hợp đồng thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm đối với sự vi phạm của mình.

Ví dụ: Theo hợp đồng A cung cấp dịch vụ du lịch cho B tại Tp. Đà Nẵng từ ngày 11/8/2020 đến ngày 15/8/2020. Tuy nhiên, ngày 27/7/2020 thì Sở Y tế Tp. Đà Nẵng đã ban hành Công văn số 4930/UBND-SYT về việc tạm dừng các tuyến vận chuyển hành khách đến Đà Nẵng. Do các văn bản của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên việc A đã không thể thực hiện được trách nhiệm của mình theo hợp đồng với B và việc không thực hiện được hợp đồng này không thể khắc phục nên A có thể được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Câu hỏi: Xin Thầy cho biết quy định của pháp luật hiện hành về hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Điều 420 BLDS năm 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể như thế nào là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” mà liệt kê năm điều kiện để một tình huống được xem là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” và hệ quả pháp lý thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản, cụ thể

Một là, sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng

Đối với điều kiện này, có hai vấn đề cần phân tích là “tác động của dịch bệnh Covid-19” có phải “nguyên nhân khách quan” hay không và thời điểm nào để xác định là “tác động của dịch bệnh Covid-19” đã xảy ra sau khi các bên đã giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, dịch bệnh Covid-19 là sự kiện khách quan không đồng nghĩa với việc những tác động, ảnh hưởng của nó khiến các bên gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng trở thành “nguyên nhân khách quan” nếu không được đặt trong bối cảnh cụ thể của từng hợp đồng và nguyên nhân này không xảy ra sau khi giao kết hợp đồng.

Hai là, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không th lường trước được sự thay đổi về hoàn cảnh

Tính “không thể lường trước được” của các bên tại thời điểm giao kết hợp đồng, có thể hiểu là việc các bên trong quan hệ hợp đồng không có bất kỳ cơ sở nào để nhận biết trước được sự thay đổi hoàn cảnh sẽ xảy ra. Việc không có cơ sở để nhận biết này “phải thuộc về bản chất của sự thay đổi mà không phụ thuộc vào khả năng nhận thức của các bên. Trường hợp sự thay đổi có tính lường trước được nhưng khi ký kết hợp đồng các bên không có sự tìm hiểu đầy đủ hay vì năng lực hạn chế mà không ý thức được, hoặc nhìn thấy được nguy cơ nhưng vẫn ký hợp đồng thì hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về những điều khoản đã ký kết”.

Ba là, hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác

Trong bối cảnh những tác động của dịch bệnh COVID 19, bên bị ảnh hưởng cần phải chứng minh được việc thay đổi hoàn cảnh đã dẫn tới mục đích ban đầu khi giao kết hợp đồng không đạt được, có thể lấy ví dụ như việc tăng lên quá mức chi phí thực hiện hợp đồng so với ban đầu đã dẫn đến việc bên bị ảnh hưởng không những không có lời mà còn không thể thu hồi lại vốn khiến doanh thu sụt giảm nghiêm trọng.

Bốn là, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên

Viện dẫn điều kiện này trong bối cảnh những tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID 19 dẫn đến hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự thay đổi, tác giả cho rằng bên bị bất lợi có thể đưa ra những căn cứ để chứng minh cho việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà có sự thay đổi nội dung hợp đồng có thể gây thiệt hại nghiêm trọng không chỉ về mặt tài chính (chi phí thực hiện hợp đồng tăng lên quá mức) mà còn có thể dẫn đến những hậu quả kéo theo tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên bị bất lợi.

Năm là, bên lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích

Cơ sở để đánh giá khi nào thì bên có lợi ích bị ảnh hưởng được xem là đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích phải phụ thuộc vào từng tình huống và quan hệ hợp đồng cụ thể. Lúc này, bên bị ảnh hưởng phải viện dẫn đầy đủ và hợp lý những biện pháp cần thiết mà bản thân đã thực hiện nhằm ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại xảy ra.

Ví dụ: Doanh nghiệp A là một cơ sở sản xuất khẩu trang y tế ở TPHCM, ký kết hợp đồng bán 1000 thùng khẩu trang y tế cho doanh nghiệp B (trụ sở ở Khánh Hòa), nguyên liệu sản xuất khẩu trang được nhập khẩu từ Trung Quốc. Vào thời điểm ký kết hợp đồng, ở Trung Quốc vẫn chưa có thông tin chính thức nào vềviệc bùng phát dịch bệnh Covid-19. Khi doanh nghiệp A tiến hành nhập khẩu nguyên liệu sản xuất khẩu trang từ Trung Quốc thì bất ngờ nước ngàytuyên bố đóng cửa biên giới, dừng mọi hoạt động xuất, nhập khẩu nhằm thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19. Lúc này để tiếp tục thực hiện hợp đồng với doanh nghiệp B, doanh nghiệp A phải mua nguyên liệu sản xuất ở một doanh nghiệp C tại Nga nhưng do nhu cầu sử dụng khẩu trang lớn, khan hiếm nguồn nguyên liệu sản xuất dẫn đến chi phí mua số nguyên liệu sản xuất 1000 thùng khẩu trang y tế này đã tăng lên gấp 5 lần so với dự tính ban đầu nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc.

Trong tình huống trên, việc doanh nghiệp A (bên bị ảnh hưởng) thay đổi địa điểm mua nguyên liệu sản xuất khẩu trang sang doanh nghiệp C ở Nga đã thể hiện bên bị ảnh hưởng có áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Dù vậy, do doanh nghiệp C bán nguyên liệu khẩu trang với giá cao gấp 5 lần so với số vốn dự kiến ban đầu, doanh nghiệp A phải chứng minh mình đã áp dụng “mọi” biện pháp cần thiết trong trường hợp này bằng việc có sự tìm hiểu, xem xét giá cả của các doanh nghiệp khác ngoài doanh nghiệp C. Nếu thực hiện nhiều giải pháp nhưng chi phí nguyên liệu vẫn quá cao hoặc giảm xuống không đáng kể thì doanh nghiệp A có quyền viện dẫn Điều 420 BLDS năm 2015 về “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” để bảo vệ quyền lợi của mình trong quan hệ hợp đồng.

Dù là vận dụng SKBKK hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên muốn thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng phải có trách nhiệm chứng minh: Dịch Covid-19 xảy ra hoặc các hành động liên quan phòng, chống dịch là ảnh hưởng việc thực hiện hợp đồng, là khách quan và không thể lường trước được khi ký kết hợp đồng. Ví dụ, dịch Covid-19 làm ảnh hưởng sức khỏe người lao động, sức mua hàng trên thực tế hoặc yêu cầu cách ly xã hội của cơ quan nhà nước dẫn đến doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ; và bên bị ảnh hưởng đã chủ động tìm mọi biện pháp để khắc phục khó khăn này (như chủ động phòng dịch để bảo đảm sức khỏe cho người lao động, đã thử nghiệm phương thức bán hàng trực tuyến để tăng cường sức mua, chủ động xây dựng phương án làm việc tại nhà…).

Câu hỏi: Vậy theo Thầy Covid-19 được coi là sự kiện bất khả kháng hay hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Đối với dịch Covid-19, ngày 29/01/2020, Bộ Y tế ban hành Quyết định 219/QĐ-BYT về việc bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007. Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, các bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh. Đến ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra là dịch truyền nhiễm tại Việt Nam, thời điểm xảy ra dịch là từ ngày 23/01/2020. Ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 447/QĐ-TTg về việc công bố dịch Covid-19 trên phạm vi toàn quốc, thay thế cho Quyết định số 173/QĐ-TTg.

Tối ngày 11/3/2020 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới – WHO (World Health Organization) đã tuyên bố dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do chủng mới của virus Corona (SARS-CoV-2) là một đại dịch toàn cầu.

Như vậy, có thể khẳng định rằng Covid-19 là một dịch bệnh truyền nhiễm. Trong lĩnh vực hợp đồng, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 không thể là sự kiện bất ngờ, vốn được quy định trong luật hình sự. Dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 cũng không thuộc trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Bởi vì, đối với hoàn cảnh thay đổi cơ bản, hợp đồng vẫn có thể thực hiện được, nhưng xét về mặt chi phí, giá thành thực hiện cao hơn rất nhiều so với dự tính ban đầu. Trong khi đó, trên thực tế, do ảnh hưởng của Covid-19, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, nhiều trường mầm non tư thục “đóng cửa”… Dưới khía cạnh pháp lý, ngày 27/03/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19. Ngày 31/03/2020, Thủ tướng chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, theo đó, trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, các cơ sở kinh doanh khác bị tạm đình chỉ hoạt động. Chính lệnh cấm các cá nhân, tổ chức kinh doanh không được hoạt động trong một thời hạn đã làm cho Covid-19 trở thành sự kiện bất khả kháng. Nói cách khác, dịch bệnh truyền nhiễm Covid-19 đã hội đủ các điều kiện để trở thành một sự kiện bất khả kháng, bao gồm: Xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Từ những lập luận trên, quan điểm cá nhân tối cho rằng nó là sự kiện bất khả kháng.

Câu hỏi: Vậy theo Thầy hệ quả pháp lý của Covid-19 và vấn đề thực hiện hợp đồng

Trên thực tế, việc ảnh hưởng của sự kiện bất khả kháng còn phải được xem xét đưới góc độ tác động đến các bên để xác định trách nhiệm miễn trừ phù hợp. Ví dụ: A cho B thuê mặt bằng để làm rạp chiếu phim và chi phí B phải thanh toán cho A bao gồm tiền thuê và phí dịch vụ. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên cơ quan Nhà nước không cho phép B thực hiện việc kinh doanh tại mặt bằng trong thời gian nhất định. Việc thanh toán của B đối với tiền thuê có thể được miễn trừ do ảnh hưởng của sự kiện bất khả kháng nhưng đối với các phí dịch vụ thì B vẫn phải thanh toán (một phần hoặc toàn bộ) cho A do A vẫn phải bỏ ra các chi phí để duy trì mặt bằng dù B có thực hiện kinh doanh hay không.

– Đối với hợp đồng thuê nhà hoặc thuê văn phòng, nếu bên thuê vẫn sử dụng nhà hoặc văn phòng, nhưng không thể thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê với lý do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên thuê sẽ không phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đối với bên cho thuê. Một trong các quan hệ dân sự chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất bởi Dịch Covid-19 là quan hệ hợp đồng cho thuê nhà (hay thường gọi là cho thuê “mặt bằng”) để kinh doanh, là quan hệ được rất nhiều người quan tâm trong thời gian qua. Để có thể phân biệt được việc xảy ra Dịch Covid-19 là một sự kiện bất khả kháng hay là sự kiện “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” theo quy định tại khoản 1 Điều 420 của BLDS 2015 thì theo tác giả, cần phải xác định nghĩa vụ cụ thể của bên thuê nhà trong hợp đồng là gì, để từ đó xác định chính xác hậu quả pháp lý là quyền yêu cầu và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên thuê nhà.

Thông thường, trong hợp đồng thuê nhà, các bên thỏa thuận nghĩa vụ cơ bản của bên thuê bao gồm: (i) Trả tiền thuê nhà (theo tháng, năm hoặc cả thời gian thuê); (ii) Sử dụng nhà đúng mục đích thuê (có thể là mục đích kinh doanh nói chung hoặc một công việc kinh doanh cụ thể …); (iii) Bảo quản nhà trong thời gian thuê; (iv) Trả lại lại khi hết thời hạn thuê (có thể trả nguyên trạng khi nhận nhà hoặc tình trạng đã đầu tư cải tạo…)…. Trong các nghĩa vụ nói trên thì chỉ có 2 nghĩa vụ đầu tiên là có thể bị ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) bởi Dịch Covid-19, còn các nghĩa vụ còn lại thì không liên quan.

Đối với nghĩa v trả tiền thuê nhà: Dù cho Nhà nước có cấm hay hạn chế kinh doanh ngành nghề haycông việc cụ thể thỏa thuận trong hợp đồng haykhông, việc kinh doanh có hiệu quả hay không thì đó cũng không phải là sự kiện bất khả kháng để miễn trách nhiệm cho bên thuê nhà khi vi phạm nghĩa vụ này, ngoại trừ trường hợp bên thuê nhà chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất tử việc khai thác mặt bằng thuê này và không có bất cứ thu nhập hoặc tài sản nào khác để có thể sử dụng vào việc thanh toán cho bên cho thuê nhà, bởi một lẽ đơn giản là không ai cản trở việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê nhà của bên thuê.

Đối với nghĩa vụ sử dụng n đúng mục đích thuê: Nếu Nhà nước có cấm kinh doanh ngành nghề hay công việc cụ thể thỏa thuận trong hợp đồng để hạn chế dịch bệnh thì đó mới chính là sự kiện bất khả kháng để miễn trách nhiệm cho bên thuê nhà khi vi phạm nghĩa vụ này.

Thực tế cho thấy, đây là vấn đề mà nhiều người thuê mặt bằng sản xuất, kinh doanh đang gặp phải hiện nay. Đặc biệt, mới đây một số địa phương như TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… thực hiện tạm dừng hoạt động các cửa hàng kinh doanh không thiết yếu thì số lượng chủ cơ sở kinh doanh gặp khó khăn lại càng tăng lên.

– Đối với hợp đồng vay tiền, nếu bên vay chứng minh được việc không thanh toán tiền vay đúng hạn là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, thì bên vay được miễn trách nhiệm đối với bên cho vay đối với các khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng, ngày 13/03/2020, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19. Triển khai thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN, nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất vay cho khách hàng và cam kết tiếp tục giảm lãi suất thêm 2% đối với các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của người dân.

Trong bối cảnh của hợp đồng vay, một trong các nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng là nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể, bên cho vay có nghĩa vụ giải ngân và bên vay có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác. Câu hỏi được đặt ra là liệu Covid-19 có thể coi là một sự kiện bất khả kháng để miễn trừ nghĩa vụ giải ngân của bên cho vay và nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác của bên vay hay không. Dựa trên quy định của pháp luật, thông lệ thị trường và cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng vay, khó có thể coi Covid-19 là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này khi Covid-19 không là nguyên nhân trực tiếp làm bên cho vay không thể thực hiện nghĩa vụ giải ngân hay bên vay không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi và các khoản thanh toán khác.

Trên thực tế, hợp đồng vay thường không quy định về sự kiện bất khả kháng. Nhìn từ góc độ pháp luật về hợp đồng, việc có hay không quy định về sự kiện bất khả kháng không quan trọng, quy định về sự kiện bất khả kháng mặc nhiên áp dụng cho dù các bên có thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng hay không.

Tác giả cho rằng, về cơ bản, chỉ những sự kiện liên quan trực tiếp dẫn đến các bên không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán như hệ thống thanh toán qua ngân hàng không hoạt động hoặc quy định ngoại hối hạn chế thanh toán theo hợp đồng vay mới có thể coi là sự kiện bất khả kháng liên quan đến nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng vay. Tuy nhiên, trên thực tế, các sự kiện này cũng thường không được quy định là sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng vay. Hợp đồng vay thường quy định cụ thể cho phép bên cho vay ngừng giải ngân hoặc yêu cầu thanh toán trước hạn hoặc trong một số trường hợp là một sự kiện giải trừ nghĩa vụ thanh toán của bên vay. Đây thường là quy định về các điều kiện tiên quyết cho việc giải ngân, thanh toán khoản vay trước hạn và sự kiện vi phạm. Các quy định này phân bố rủi ro giữa bên cho vay và bên vay khi xảy ra các sự kiện trên và các sự kiện này không được coi là sự kiện bất khả kháng.

– Đối với hợp đồng xây dựng, việc nhà thầu phải giãn tiến độ thực hiện hợp đồng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhà thầu sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại thực tế phát sinh từ việc chậm tiến độ và cũng không phải chịu chế tài phạt vi phạm hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, việc miễn trách nhiệm trong các hợp đồng không đồng nghĩa với việc loại trừ các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết.

Các hạn chế áp đặt đã có tác động đáng kể đến tất cả các bên liên quan đến các dự án xây dựng, chưa kể hậu quả tài chính nghiêm trọng. Các biện pháp khắc phục có sẵn theo luật cho các bên tham gia hợp đồng xây dựng để bảo vệ quyền của họ và giảm thiểu thiệt hại trong những trường hợp rất bất thường này phụ thuộc vào các điều khoản trong hợp đồng tương ứng của họ, mà còn về luật điều chỉnh. Việc gia hạn thời gian và yêu cầu về thời gian và tiền bạc là không thể tránh khỏi.

Đầu tiên, tác động rõ ràng ngay lập tức của Covid-19 đối với các dự án xây dựng là sự chậm trễ và gián đoạn các hoạt động của dự án. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến các nhà thầu yêu cầu thêm thời gian và chi phí. Để đảm bảo quyền lợi của họ được gia hạn thời gian và mất mát phải chịu, nhà thầu nên đảm bảo rằng họ kịp thời gửi yêu cầu gia hạn thời gian, tôn trọng các yêu cầu thủ tục như được liệt kê trong hợp đồng tương ứng của họ.

Chân thành cảm ơn Thầy đã dành thời gian trao đổi!

One thought on “ĐẠI DỊCH COVID-19 LÀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG HAY HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *