MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ DI CHÚC

Theo quy định tại Điều 609 Bộ Luật Dân sự 2015 (BLDS) thì cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 624 BLDS 2015).

Để được xem là một di chúc hợp pháp thì phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 630 của BLDS 2015 như sau:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Di chúc phải được lập thành văn bản, tùy từng trường hợp mà văn bản này có thể được công chứng; chứng thực; có người làm chứng hoặc không có người làm chứng (Điều 628 BLDS 2015). Ngoài ra, di chúc còn có thể được thể hiện dưới hình thức di chúc miệng.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 630 BLDS 2015, điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. Như vậy, đối với di chúc bằng miệng phải thỏa mãn các quy định nêu trên thì mới được xem là một di chúc hợp pháp.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 640 BLDS 2015 thì Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ. Như vậy, một người có thể lập nhiều bản di chúc khác nhau, khi người lập di chúc đã hủy bỏ, thay thế di chúc cũ bằng một di chúc mới thì di chúc cũ sẽ không còn hiệu lực thi hành.

Ngoài ra, tại khoản 5 Điều 643 BLDS 2015 còn quy định, khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Nghĩa là, khi Người lập di chúc chết thì bản di chúc cuối cùng mới là bản di chúc có hiệu lực và những người thừa kế phải căn cứ vào bản di chúc sau cùng này để phân chia di sản thừa kế.

Thực tiễn, nếu người được thừa kế không thực hiện đúng nghĩa vụ như chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý tài sản hoặc cha mẹ không muốn tặng cho tài sản cho người con này nữa thì có quyền truất quyền thừa kế của người con này và có quyền lập di chúc khác. Bản di chúc cuối cùng của họ là bản di chúc có hiệu lực pháp lý và thời điểm có hiệu lực của di chúc là từ thời điểm mở thừa kế, nghĩa là khi người để lại tài sản đã chết thì người được hưởng di sản theo di chúc mới có quyền định đọa, sở hữu, sử dụng về tài sản này hợp pháp.

Trên đây là bài viết của Công ty Luật TNHH Danh Tiếng. Mọi thắc mắc cần được tư vấn của quý khách hàng xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại, email hoặc liên hệ trực tiếp tại Công ty để được hỗ trợ.

CÔNG TY LUẬT TNHH DANH TIẾNG

Địa chỉ: Tầng 3, số 372 Lê Văn Sỹ, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hotline: 0838.612.333 – 0973.231.333

Email: luatdanhtieng@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *