SO SÁNH CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VÀ PHẠT VI PHẠM THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

Bồi thường thiệt hạiPhạt vi phạm là hai chế tài quan trọng mà các bên cần chú ý khi tiến hành giao kết hợp đồng. Theo đó mức bồi thường, mức phạt vi phạm trong hợp đồng do các bên thoả thuận nhưng không được trái với các quy định của pháp luật liên quan. Việc áp dụng hai chế định này thể hiện trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia vào hợp đồng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng xảy ra.

Vấn đề bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm được quy định chung ở Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) và các bên khi giao kết Hợp đồng cần tuân thủ các quy định của Bộ luật này. Ngoài ra, khi quan hệ pháp luật giữa các bên chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành như Luật Thương mại 2005 (LTM 2005), Luật Xây Dựng 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (LXD 2014)… Do đó, khi phát sinh tranh chấp thì luật chuyên ngành sẽ ưu tiên được áp dụng.

Các quy định pháp luật về Bồi thường thiệt hại:

Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất xảy ra. Căn cứ tại Điều 360 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Theo đó, thiệt hại này bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần, nghĩa là bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể. (Quy định tại Điều 316 BLDS 2105).

Còn theo quy định tại Điều 302 của LTM 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại dựa trên giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Như vậy, có sự khác nhau trong việc xác định thiệt hại xảy ra giữa BLDS 2015 và LTM 2005. Do đó, tùy vào quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi luật liên quan giữa các bên trong hợp đồng mà áp dụng quy định tương ứng.

Các quy định pháp luật về Phạt vi phạm hợp đồng:

Theo quy định tại Điều 418 của BLDS 2015: “Phạt vi phạm là thoả thuận giữa các bên trong Hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”. Mức phạt được BLDS 2015 ưu tiên do các bên tự thoả thuận với nhau, trong trường hợp quan hệ pháp luật giữa các bên được điều chỉnh bởi luật liên quan khác thì các bên phải tuân theo quy định của luật đó. 

Trong trường hợp quan hệ pháp luật của các bên được điều chỉnh bởi LTM 2005 có quy định về Phạt vi phạm tại Điều 301 như sau: “Mức phạt vi phạm hợp đồng hoặc tổng phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong Hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”. Như vậy, LTM 2005 vẫn cho phép các bên tự nguyện thỏa thuận nhưng phải trong khuôn khổ giới hạn mà luật cho phép.

Ngoài ra, với quan hệ pháp luật do LXD 2014 điều chỉnh thì đối với công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nước ngoài đầu tư, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm (khoản 2 Điều 146). Trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do nguyên nhân của bên thứ ba, bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm vi phạm hợp đồng trước bên kia. Tranh chấp giữa bên vi phạm với bên thứ ba được giải quyết theo quy định của pháp luật (khoản 6 Điều 146 LXD 2014). Tương tự như LTM 2005, LXD cũng quy định giới hạn mức vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, LXD còn quy định về qua hệ phát sinh trách nhiệm nếu có nguyên nhân vi phạm của bên thứ ba.

Vì vậy khi giao kết hợp đồng, các bên phải lưu ý các điều khoản về mức phạt vi phạm hợp đồng để có các thỏa thuận đúng theo quy định của pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp xảy ra.

Mối quan hệ giữa bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng:

BLDS 2015 quy định các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thoả thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm. BLDS 2015 luôn đề cao thoả thuận giữa các bên, trong trường hợp này cũng vậy, việc áp dụng vừa phạt vi phạm vừa bồi thường thiệt hại đều do các bên tự nguyện thoả thuận và thống nhất với nhau.

Còn đối với LTM 2005, tại Điều 307 quy định trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. Trường hợp các bên có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác. Nghĩa là, việc phạt vi phạm bắt buộc phải được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì khi có vi phạm nghĩa vụ xảy ra thì bên bị vi phạm mới có quyền đòi phạt vi phạm hợp đồng. Còn về yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, nếu có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm đòi bồi thường thiệt hại tại Điều 303 thì bên bị vi phạm có quyền đòi bồi thường thiệt hại mà không cần phải có điều khoản thoả thuận giữa các bên.

Trên đây là bài viết của Công ty Luật TNHH Danh Tiếng. Mọi thắc mắc cần được tư vấn của quý khách hàng xin vui lòng liên hệ qua số điện thoại, email hoặc liên hệ trực tiếp tại Công ty để được hỗ trợ.

CÔNG TY LUẬT TNHH DANH TIẾNG

Địa chỉ: Tầng 3, số 372 Lê Văn Sỹ, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hotline: 0838.612.333 – 0973.231.333

Email: luatdanhtieng@gmail.com

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *