Trách nhiệm dân sự đối với hành vi vi phạm trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm – tiếp cận từ thực tế phòng, chống dịch Covid-19

Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid 19 đang diễn biến hết sức phức tạp, cả nước chung sức thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch. Tuy nhiên, vẫn có không ít người vi phạm quy định phòng, chống dịch bệnh và theo quy định của pháp luật hiện hành có thể sẽ bị xử lý hình sự, hành chính, dân sự. Luật Danh Tiếng có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Ngọc Anh Đào, Phó trưởng Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM

 

Câu hỏi: Kính chào cô Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi không tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch bệnh covid-19  

Căn cứ quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ pháp sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.…”

Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là việc một chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại cho chủ thể khác. Bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”. Với các quy định trên, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm: phải có hành vi xâm phạm, có thiệt hại xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại. Về yếu tố lỗi, BLDS năm 2015 không còn đề cập trực tiếp mà chỉ ghi nhận “trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, chỉ khi luật quy định lỗi là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thì chúng ta mới xem xét đến yếu tố này.

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra 

Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Xét trong trường hợp các chủ thể là cá nhân, tổ chức bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cách ly tập trung trong vòng 14 ngày do tiếp xúc gần với người nhiễm virut Covid 19 hoặc bị áp dụng biện pháp phong tỏa tòa nhà, văn phòng.

Các biện pháp trên đã trực tiếp làm phát sinh thiệt hại mà các chủ thể phải gánh chịu như: Thu nhập thực tế bị mất đi từ tiền công, tiền lương, từ doanh thu đáng lẽ phải có trong 14 ngày cách ly tập trung; Thu nhập từ việc cho thuê văn phòng, các chi phí vận hành tòa nhà, văn phòng… Bên cạnh đó, đối với các cá nhân bị áp dụng biện pháp cách ly tập trung do tiếp xúc phải người bệnh còn bị hạn chế về quyền tự do đi lại. Tuy nhiên, tác giả không phân tích vấn đề này tại đây.

Hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid–19 phải gây thiệt hại thì mới đặt ra trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại do hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid – 19 cho người là thiệt hại về vật chất và cả thiệt hại về tinh thần. Như vậy, hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid – 19 như: “trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; t chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối”, “cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm”, “cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm”,… có thể gây ra những thiệt hại về vật chất như làm cho người khác bị cách ly không thể đi làm việc dẫn đến mất thu nhập và gây ra thiệt hại về tinh thần như bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn nơi cư trú,…. Ở mức độ nặng hơn, những hành vi trên có thể làm cho người khác bị nhiễm bệnh, có thiệt hại về sức khỏe, tính mạng. Điều này đặt ra vấn đề phải bồi thường những thiệt hại được quy định tại Điều 590 (thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm) và Điều 591 (thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm) BLDS năm 2015.

Thứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Theo quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm (PCBTN), các hành vi sau đây bị cấm: “1. Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. 2. Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 3. Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật. 4. Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm. 5. Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm. 6. Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này. 7. Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”.

Về nguyên tắc, điều cấm của luật là quy định không cho phép chủ thể thực hiện một/một số hành vi nhất định nào đó, và nếu vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý hành vi. Tuỳ thuộc vào tính chất vi phạm và mức độ nguy hiểm của hành vi mà chủ thể vi phạm có thể chịu trách nhiệm dân sự, hành chính, kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm.

Các nhóm hành vi bị cấm biểu hiện ở các dạng khác nhau nhưng đều mang tính chất nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ, “hành vi cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm”. Đây là hành vi đặc biệt nguy hiểm của chủ thể vi phạm khi đã biết nguồn/tác nhân gây bệnh truyền nhiễm là nguy hiểm nhưng vẫn “cố ý” làm lây lan cho người khác trong cộng đồng. Thực tiễn phòng, chống dịch COVID-19 cho thấy, có trường hợp, “cô gái lên mạng xã hội” tự khoe bí quyết vượt qua được sự kiểm soát của lực lượng hải quan, an ninh tại các sân bay về y tế để không bị phát hiện mình trở về từ các vùng tâm dịch đã gây khó khăn cho công tác chống dịch Covid -19. Trong trường hợp xấu thì hậu quả nghiêm trọng bởi một người bị nhiễm virus Covid -19 có thể lây lan trong cộng đồng, rồi người bị nhiễm tiếp theo sẽ tiếp tục lây lan cho nhiều người khác với cấp số nhân.

-“Hành vi cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm”, cho dù xuất phát từ “động cơ” khác nhau của chủ thể khai báo (sợ ảnh hưởng đến thi đua, khen thưởng, kỷ luật, nhằm trốn tránh việc cách ly, để không bị cấm nhập, xuất cảnh…), hệ quả chung của hành vi làm cho cơ quan có thẩm quyền không đánh giá đúng được mức độ nguy hiểm của bệnh truyền nhiễm để ứng phó, các tổ chức cá nhân không biết người mắc bệnh truyền nhiễm, hoặc sự tồn tại của bệnh truyền nhiễm tại nơi mình sinh sống, làm việc để phòng tránh. Thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm gây ra một hệ lụy xấu: không chỉ tạo ra những đồn đoán thất thiệt, gây hoang mang dư luận mà còn có thể khởi nguồn cho các hiệu ứng tiêu cực ảnh hưởng tới an ninh, chính trị, hình ảnh của tổ chức, cá nhân trong phòng chống bệnh truyền nhiễm. Hành vi này, làm cản trở chính sách của Nhà nước về “huy động sự đóng góp về tài chính, kỹ thuật và nhân lực của toàn xã hội trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm”.

Trong đó, hành vi cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về việc đã tiếp xúc hoặc khai báo gian dối về lịch trình di chuyển và lịch sử tiếp xúc gây khó khăn cho cơ quan chức năng về việc khoanh vùng và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh dẫn đến việc gây thiệt hại cho các chủ thể khác.

– Hành vi trốn tránh cách ly y tế

Theo Điều 2, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, cách ly y tế được hiểu là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh. Cách ly y tế là biện pháp đầu tiên nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh. Do đó, chấp hành nghiêm túc các quy định về cách ly y tế là hết sức cần thiết. Người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh dịch nhóm A và một số bệnh nhóm B theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế phải được cách ly. Hình thức cách ly bao gồm cách ly tại nhà, tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tại các cơ sở, địa điểm khác.

Song thực tế những ngày qua, đã xuất hiện khá nhiều trường hợp trốn tránh cách ly y tế.

Hành vi trốn tránh cách ly y tế của các cá nhân nói trên là hành vi nguy hiểm cho cộng đồng bởi nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiến cho bệnh dịch lan rộng. Quá trình trốn trách cách ly, các cá nhân này đã gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người. Những người này sẽ nằm trong diện có nguy cơ nhiễm bệnh đầu tiên. Trong trường hợp cá nhân trốn tránh cách ly y tế dương tính với Covid-19 thì nguy cơ nhiễm bệnh đối với những người tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc gián tiếp với họ còn cao hơn nữa.

Đặt trong bối cảnh Chính phủ và hệ thống y tế đang nỗ lực, tập trung cao độ để phòng, chống dịch Covid-19 thì việc số ít người cố tình trốn tránh cách ly y tế là hành động không thể chấp nhận được. Việc cố tình trốn tránh cách ly y tế có thể do họ nhận thức chưa đầy đủ về dịch Covid-19; thiếu ý thức trách nhiệm…, song rõ ràng hành vi này đã gây nguy hiểm đến sức khỏe của chính họ, đồng thời đe dọa sự an toàn của cộng đồng xã hội.

Bên cạnh đó để cụ thể hóa các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành và tuyên truyền đầy đủ, rộng rãi các quy định, hướng dẫn về giãn cách xã hội cũng như phòng chống dịch bệnh. Có thể kể đến như: Các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (Chỉ thị: số 05/CT-TTg ngày 28/1/2020; Chỉ thị số: 06/CT-TTg ngày 31/1/2020, Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020; các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút corona gây ra và các quy định của pháp luật có liên quan). Đây được xem là các văn bản quy định về việc phòng, chống dịch Covid-19.

Như vậy, chủ thể bị khởi kiện có thể là cá nhân hoặc tổ chức có tư cách pháp nhân có một trong số các hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống dịch bệnh Covid-19 dẫn đến gây thiệt hại cho các chủ thể khác là một trong các căn cứ để buộc BTTH ngoài hợp đồng.

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên.

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng chính hành vi vi phạm các quy định về phòng, chống dịch Covid-19 của các chủ thể là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh của cơ quan có thẩm quyền như phong tỏa, cách ly… những người có liên quan và bị ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi vi phạm trên điều này làm phát sinh thiệt hại trên thực tế.

Tuy nhiên, sẽ có quan điểm cho rằng chính biện pháp cách ly của cơ quan có thẩm quyền áp dụng mới là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho các chủ thể bị cách ly, ảnh hưởng. Tác giả không đồng ý với quan điểm trên vì chính hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống dịch bệnh của các chủ thể mới làm phát sinh hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm đó.

Đối với các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là các quyết định nhằm ngăn chặn, kiểm soát sự lây lan dịch bệnh từ hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân tổ chức. Các quyết định này được ban hành thực hiện đúng quy định của pháp luật về phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Do đó, giữa hành vi vi phạm và thiệt hại có mối quan hệ nhân quả mật thiết với nhau.

Thứ tư, v yếu tố lỗi: Như đã phân tích ở trên, BLDS năm 2015 không quy định lỗi là căn cứlàmphát sinh trách nhiệmBTTH ngoài hợp đồng nhưquyđịnh của BLDS năm 2005 trước đây mà chỉ khi nào luật có quy định thì mới cần xem xét đến yếu tố lỗi. Trong khi đó, LPCBTN thì quy định một số hành vi làm lây lan dịch bệnh bị cấm vẫn gắn với yếu tố lỗi cố ý như: “cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm” và “cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm”. Với quy định tại Điều 240 BLHS năm 2015 về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người thì về mặt chủ quan của hành vi cũng là “Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý”

Tóm lại, đối với yêu cầu BTTH ngoài hợp đồng do hành vi không tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 sẽ phát sinh khi các chủ thể thõa mãn về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường như phân tích bên trên.

Câu hỏi: Theo cô quy định của pháp luật hiện hành về quyền khởi kiện do hành vi không tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch bệnh covid-19  

Căn cứ Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Như vậy, tất cả các chủ thể bị thiệt hại, ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm các quy định về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của chủ thể khác có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẳm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Pháp luật không hạn chế quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức. Bất cứ một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có đủ năng lực hành vi dân sự đều có quyền khởi kiện vụ án dân sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Do đó, trong trường hợp này, nếu các chủ thể chứng minh được những thiệt hại, quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm do bệnh nhân nhiễm Covid-19 làm lây lan dịch bệnh thì bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện họ.

Câu hỏi Như vậy pháp luật hiện hành có quy định về chủ thể bồi thường và chủ thể được bồi thường do hành vi không tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch bệnh covid-19 không ạ.

Về chủ thể bồi thường, quy định của BLDS năm 2015 cho thấy người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Đối với hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid – 19 gây thiệt hại dẫn đến trách nhiệm bồi thường thì chủ thể bồi thường ở đây thường là cá nhân bởi vì các hành vi vi phạm trong thời gian qua ở nước ta chủ yếu là hành vi của cá nhân, chẳng hạn như: trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối…Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 1 LPCBTN về đối tượng áp dụng thì “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.”. Điều 8 LPCBTN thì quy định về những hành vi bị nghiêm cấm gồm: Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; …. Đây là những hành vi chủ yếu quy định cho cá nhân. Do đó, cá nhân thực hiện những hành vi này gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Ví dụ: “Bệnh nhân số 34, một nữ doanh nhân từ Bình Thuận đã trở thành ca lây nhiễm nhiều nhất tại Việt Nam. Từ ca bệnh này, 10 trường hợp có liên quan xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2. Đến ngày 14/3/2020, bệnh nhân này đã lây cho 8 người tiếp xúc gần và 2 người tiếp xúc với người tiếp xúc.” Bệnh nhân 34 đang là trường hợp ‘siêu lây nhiễm’ không chỉ ở Bình Thuận mà còn liên quan đến nhiều địa phương khác. Điều đáng nói là dù biết mình nhiễm Covid-19 nhưng người này cố tình khai báo gian dối gây khó cho cơ quan chức năng.”

Theo khoản 1, Điều 584, BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Từ những quy định trên, chúng ta thấy rằng, về chủ thể bồi thường, mặc dù BLDS năm 2015 quy định có thể là cá nhân, pháp nhân nhưng đối với trách nhiệm BTTH do hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid – 19 thì chủ thể bồi thường thường là cá nhân do hành vi làm lây lan dịch bệnh chủ yếu là những hành vi trái pháp luật của cá nhân như: Đưa ra hoặc cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người; trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối;…

Về chủ thể được bồi thường, theo quyđịnh của BLDS năm 2015 thì chủ thể được bồi thường cũng có thể là cá nhân, pháp nhân bị thiệt hại do hành vi làm lây lan dịch bệnh Covid – 19 gây ra. Về cá nhân bị thiệt hại, như đã phân tích ở trên, tại Việt Nam, vì hành vi khai báo gian dối của một số bệnh nhân như bệnh nhân số 34, số 178… mà nhiều người đã phải bị cách ly, nhiều người bị lây nhiễm bệnh và thậm chí có người đã bị thiệt hại về tính mạng. Do đó, nếu có đủ các căn cứ luật định thì bản thân người bị thiệt hại hoặc những người thân thích của họ có quyền yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm gây thiệt hại phải bồi thường. Về nội dung này, có quan điểm cho rằng: “Đối với các cá nhân làm lây lan dịch bệnh thì hành vi của các cá nhân đó cần được điều tra làm rõ. Sau khi điều trị khỏi bệnh thì các cá nhân đó ngoài các chế tài về xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật đối với những người đã bị lây bệnh khiến thiệt hại đến sức khỏe, tài sản, tính mạng. Trong trường hợp những người bị lây bệnh bị tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và có căn cứ rõ ràng cho thấy người lây bệnh đã có lỗi dẫn đến những thiệt hại đó thì những người bị nhiễm bệnh hoàn toàn có quyền yêu cầu người truyền bệnh phải bồi thường thiệt hại theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.”

Ngoài ra, các tổ chức, doanh nghiệp trong khu vực bị cách ly có thiệt hại cũng có thể yêu cầu bồi thường nếu có đủ các điều kiện luật định. Điều này trả lời cho câu hỏi mà thực tiễn đặt ra, theo đó, có quan điểm cho rằng: “Trường hợp cá nhân không khai báo hoặc khai báo dịch bệnh không trung thực, dẫn đến cách ly cả khu vực; trong khu vực bị cách ly đó, có những hộ kinh doanh hoặc công ty phải tạm dừng hoạt động dẫn đến thiệt hại về kinh tế; vậy họ có quyền yêu cầu “cá nhân không khai báo hoặc khai báo không trung thực đó” bồi thường thiệt hại hay không?”.

Chân thành cảm ơn Cô!

One thought on “Trách nhiệm dân sự đối với hành vi vi phạm trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm – tiếp cận từ thực tế phòng, chống dịch Covid-19

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *